hotline

ALÔ Bác Sĩ Tư Vấn
Khám Bệnh

1900.599.910

(Từ 9h00 - đến 21h00 hằng ngày)

(5.000đ/Phút)

hotline

ALÔ Dược Sĩ Tư Vấn
Sử Dụng Thuốc

1900.599.909

(Từ 9h00 - đến 21h00 hằng ngày)

(5.000đ/Phút)

Bệnh viêm màng não mủ, Viêm não Nhật Bản B, Viêm gan virut

Bệnh viêm màng não mủ, Viêm não Nhật Bản B, Viêm gan virut

Bệnh viêm màng não mủ, Viêm não Nhật Bản B, Viêm gan virut

Bệnh viêm màng não mủ, Viêm não Nhật Bản B, Viêm gan virut

Bệnh viêm màng não mủ, Viêm não Nhật Bản B, Viêm gan virut
Bệnh viêm màng não mủ, Viêm não Nhật Bản B, Viêm gan virut

Bệnh viêm màng não mủ, Viêm não Nhật Bản B, Viêm gan virut

06-01-2018 08:04:32 PM

Đặc điểm bệnh và cách phòng ngừa

          Bệnh viêm màng não mủ

Viêm màng não mủ, hay viêm màng não nhiễm khuẩn, là hiện tượng viêm của các màng bao bọc quanh hệ thần kinh trung ương (não và tủy sống) do sự hiện diện của các vi khuẩn gây bệnh trong khoang dịch não tủy. Sự viêm nhiễm này sẽ gây nên tình trạng sinh mủ bên trong hệ thống thần kinh trung ương. Các tình trạng viêm nhiễm hệ thần kinh trung ương khác là viêm não do virus, viêm màng não do nấm, viêm màng não do hóa chất hoặc do xâm nhập của các tế bào ung thư...

Triệu chứng

Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
Các triệu chứng không điển hình và thường biểu hiện một tình trạng bệnh lý toàn thân nặng. các dấu hiệu bao gồm:

Bú kém, suy kiệt, tăng kích thích, cơn ngưng thở, quấy khóc, không yên tĩnh. Sốt hoặc hạ thân nhiệt, vô cảm, thờ ơ ngoại cảnh, co giật, vàng da, thóp phồng, da xanh tái, biểu hiện sốc, giảm trương lực cơ, khóc thét, hạ đường huyết, nhiễm toan chuyển hóa khó điều trị.

Ở trẻ lớn hơn
Biểu hiện bệnh ở nhóm tuổi này tương đối điển hình hơn với các dấu hiệu như sau:

Sốt, dấu nhiễm trùng, nhiễm độc, cứng cổ, tư thế ưỡn người, thóp phồng (nếu thóp chưa đóng kín), co giật, sợ ánh sáng, nhức đầu, suy giảm ý thức, tăng kích thích, mệt mỏi suy nhược, chán ăn, buồn nôn và nôn vọt, hôn mê.

Điều trị

Điều trị viêm màng não mủ cần tiến hành sớm, theo dõi chặt chẽ để thay đổi điều trị thích hợp và xử trí nhanh chóng các biến chứng. Điều trị gồm có hai phần chính: điều tri đặc hiệu và điều trị nâng đỡ

Điều trị đặc hiệu là điều trị bằng kháng sinh nhằm tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh. Điều trị này thường tiến hành ngay sau khi chọc dịch não tủy nếu nghi ngờ viêm nàng não mủ. Đôi khi tình trạng bệnh nhân chưa cho phép chọc dịch não tủy thì việc điều trị bằng kháng sinh vẫn có thể tiến hành. Kháng sinh ban đầu khi chưa có xét nghiệm kháng sinh đồ thường được chọn dựa vào tần suất gây bệnh của các loại vi khuẩn, khả năng thấm qua hàng rào mạch máu - não, ít gây các tác dụng không mong muốn (hay tác dụng phụ). Kháng sinh ban đầu cho trẻ lớn thường chọn là một cephalosporin thế hệ thứ ba như Cefotaxime (Claforan) với liều từ 200–300 mg/Kg/ngày tiêm vào tĩnh mạch chia 3 đến 4 lần, hay một ceftriaxon (như Rocephine, Megion) liều 100–150 mg/Kg/ngày tiêm vào tĩnh mạch chia hai lần.

Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ không bao giờ được dùng cephalosporin thế hệ thứ ba đơn độc mà thường kết hợp thêm ampicillin và/hoặc gentamycin. Sau khi có kết quả kháng sinh đồ thì điều trị theo kháng sinh đồ. Điều trị thường kéo dài từ 10 ngày đến 3 tuần tùy theo loại vi khuẩn.
Điều trị nâng đỡ, hay còn gọi điều trị hỗ trợ bao gồm bảo đảm thông khí và cung cấp đủ ô xy cũng như thải khí carbonic, hạ sốt, chống phù não, kiểm soát co giật, cân bằng nước-điện giải, phát hiện hội chứng tăng tiết ADH bất thường, đảm bảo dinh dưỡng, chống vảy mục, vật lý trị liệu...

Phòng ngừa

- Phát hiện và điều trị sớm các nhiễm trùng tai - mũi - họng, hô hấp.
- Chăm sóc răng miệng, điều trị các bệnh nha khoa.
- Tiêm chủng: Hiện nay trên thị trường có vaccine phòng Hemophilus influenzae và phế cầu. Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam thì vaccine phòng Hemophilus influenzae là giải pháp thích hợp và hiệu quả hơn.
- Cải thiện môi trường sống, giũ gìn vệ sinh cá nhân.

Biến chứng

Tử vong: mặc dù có nhiều tiến bộ trong hồi sức thần kinh, tỷ lệ tử vong của viêm màng não còn rất cao, có nơi đến 30%. Bệnh nhân tử vong vì tổn thương não nặng nề, đặc biệt là tổn thương đến các vùng sinh tồn ở thân não, vì sốc nhiễm trùng huyết, vì rối loạn nước-điện giải, vì suy kiệt...

Bại não, động kinh, chậm phát triển tinh thần vận động
Não úng thủy, mù vỏ não
Điếc tiếp nhận

          ► Bệnh viêm não Nhật Bản

Viêm não Nhật Bản là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do một loại virus có ái tính với nhu mô não gây ra. Trên lâm sàng thường có biểu hiện hội chứng nhiễm trùng và rối loạn thần kinh ở nhiều mức độ khác nhau, điều đáng lo ngại là bệnh thường để lại di chứng trầm trọng và tỉ lệ tử vong cao. Ở trẻ em có những rối loạn về trí tuệ và phát triển tâm thần kinh, chậm biết nói, không thể hòa hợp và tiếp thu bài học như các em cùng lớp. Do vậy viêm não Nhật Bản là bệnh có tầm quan trọng xã hội to lớn, đòi hỏi các biện pháp dự phòng đặc hiệu có hiệu quả và cả các biện pháp điều trị thích hợp để giảm tối đa các di chứng có thể xảy ra

Triệu chứng

Triệu chứng lâm sàng thể thông thường điển hình

Thời kỳ nung bệnh: Kéo dài từ 5 đến 14 ngày , trung bình là 1 tuần

Thời kỳ khới phátBệnh thường khởi phát rất đột ngột với sốt cao 39oC – 40oC hoặc hơn .

Bệnh nhân đau đầu, đặc biệt là vùng trán, đau bụng, buồn nôn và nôn. Ngay trong 1 -2 ngày đầu của bệnh đã xuất hiện cứng gáy, tăng trương lực cơ, rối loạn sự vận động nhãn cầu. Về tâm thần kinh có thể xuất hiện lú lẫn hoặc mất ý thức. Những ngày đầu phản xạ gân xương tăng, xung huyết giãn mạch rõ. Ở một số trẻ nhỏ tuổi, ngoài sốt cao có thể thấy đi lỏng, đau bụng, nôn.

Tóm lại trong thời kỳ khởi phát đặc điểm nổi bật của bệnh là sốt cao đột ngột , hội chứng màng não và rối loạn ý thức từ nhẹ đến nặng (li bì, kích thích, vật vã, u ám, mất ý thức hoàn toàn)

Thời kỳ khởi phát của bệnh tương ứng với lúc virus vượt qua hàng rào mạch máu – não vào tổ chức não và gây tổn thương nên phù nề não.

Thời kỳ toàn phát: Từ ngày thứ 3 -4 đến ngày thứ 6 -7 của bệnh. Thời kỳ này tương ứng với thời kỳ virus xâm nhập vào tế bào não tuỷ gây huỷ hoại các tế bào thần kinh

Bước sang ngày thứ 3 -4 của bệnh các triệu chứng của thời kỳ khởi phát không giảm mà lại tăng lên. Từ mê sảng, kích thích, u ám lúc đầu dần dần bệnh nhân di vào hôn mê sâu dần. Các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật cũng tăng lên như vã nhiều mồ hôi, da lúc đỏ, lúc tái, rối loạn nhịp thở và tăng tiết trong lòng khí quản do vậy khi nghe phổi có thể thấy nhiều ran rít, ran ngáy và cả ran nổ. Mạch thường nhanh và yếu.

Nổi bật trong giai đoạn toàn phát là sự xuất hiện các triệu chứng tổn thương não nói chung và tổn thương thần kinh khu trú. Bệnh nhân cuồng sảng, ảo giác, kích động, tăng trương lực cơ kiểu ngoại tháp làm cho bệnh nhân nằm co quắp. Trong trường hợp tổn thương hệ thống tháp nặng có thể thấy co giật cứng hoặc giật rung các cơ mặt và cơ tứ chi hoặc liệt, liệt cứng. Ở một số bệnh nhân xuất hiện trạng thái định hình, giữ nguyên tư thế. Do rối loạn chức năng vùng dưới đồi làm cho mạch nhanh 120 -140 lần / phút , tăng áp lực động mạch và co mạch ngoại vi. Các dây thần kinh sọ não cũng bị tổn thương, đặc biệt là các dây vận nhãn ( III, IV, VI ) và dây VII. Rối loạn trung khu hô hấp dẫn tới thở nhanh nông, xuất tiết nhều ở khí phế quản và có thể thấy viêm phổi đốm hoặc viêm phổi thuỳ .

Soi đáy mắt trong giai đoạn cấp tính thường thấy xung huyết gai thị, đôi khi thấy cả phù nề và xuất huyết. Bệnh nhân rối loạn nhận cảm mầu sắc và ánh sáng, thị trường bị thu hẹp

Thời kỳ lui bệnh

Từ ngày thứ 7, 8 trở đi, lâm sàng xuất hiện những biến chứng và di chứng . Thông thường bước sang tuần thứ 2 của bệnh, bệnh nhân đỡ dần, nhiệt đô giảm từ sốt cao xuống sốt nhẹ và vào khoảng ngày thứ 10 trở đi nhiệt độ trở về bình thường nếu không có bội nhiễm vi khuẩn khác . Cùng với nhiệt độ, mạch cũng chậm dần về bình thường, nhịp thở không rối loạn. Hội chứng não – màng não cũng dần dần mất: Bệnh nhân từ hôn mê dần dần tỉnh, trương lực cơ giảm dần và không còn những cơn co cứng. Bệnh nhân hết nôn và đau đầu, cổ mềm, các dấu màng não cũng trở về âm tính.

Trong khi hội chứng nhiễm trùng , nhiễm độc và hội chứng màng não giảm dần thì các tổn thương khu trú lại rõ hơn trước. Bệnh nhân có thể bại và liệt chi hoặc liệt các dây thần kinh sọ não hoặc rối loạn sự phối hợp vận động. Thời kỳ này có thể xuất hiện những biến chứng sớm như: viêm phế quản, viêm phổi hoặc viêm phế quản – phổi do bội nhiễm hoặc phải hô hấp viện trợ, hút đờm dãi không vô trùng, viêm bể thận, bàng quang do thông tiểu hoặc đặt sonde dẫn lưu; loét và viêm tắc tĩnh mạch do nằm lâu và rối loạn dinh dưỡng. Những di chứng sớm có thể gặp là bại hoặc liệt nửa người, mất ngôn ngữ, múa giật, múa vờn, rối loạn phối hợp vận động, giảm trí nhớ nghiêm trọng, rối loạn tâm thần..

Từ cuối tuần thứ 2 trở đi là thời kỳ của những biến chứng và di chứng muộn. Những biến chứng muộn có thể gặp là: viêm phổi, viêm bể thận- bàng quang, loét nhiễm trùng, rối loạn giao cảm, rối loạn chuyển hoá. Những di chứng muộn có thể xuất hiện sau vài năm hoặc thậm chí hàng chục năm mà thường gặp là động kinh và parkinson

Điều trị

Chống phù não:

Truyền dung dịch ưu trương như dung dịch Glucose 10 – 20 -30 %

Các thuốc lợi tiểu như Manitol 20 % 1- 2 g/ kg tốc độ nhanh.

Trường hợp phù não nặng có co giật thì dùng corticoid: Dexamethason 10 mg tiêm tĩnh mạch , sau mỗi 5 giờ tiêm 4 mg

An thần: Seduxen qua sonde hoặc tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch . Nếu bệnh nhân có co giật nhiều thì dùng Gardenal

Hạ nhiệt: thuốc hạ nhiệt qua sonde dạ dày hoặc đặt hậu môn loại paracetamol 0,5g x 2 -3 lần / ngày

Hồi sức hô hấp và tim mạch : Thở oxy , hút đờm dãi , hô hấp viện trợ khi rối loạn nhịp thớ nặng hoặc ngưng thở ,thuốc trợ tim, điều chỉnh nước , điện giải kịp thời

Phòng bội nhiễm và dinh dưỡng chống loét: Kháng sinh phổ rộng, vệ sinh thân thể, răng miệng, dùng đệm sao su nằm chống loét, chế độü dinh dưỡng: bảo đảm đủ đạm, vitamin qua sonde dạ dày

Phòng ngừa

Tiêm chủng vaccinee phòng bệnh

Tuyên truyền các biện pháp phòng bệnh cho nhân dân , vệ sinh môi trường

Vaccinee:  Tiêm 2 lần cách nhau 7 – 14 ngày, sau đó 1 năm chích nhắc lại mũi thứ 3, cứ mỗi 3 -4 năm tiêm nhắc lại. Tiêm chủng phòng ngừa là biện pháp giám sát giám sát thực tế nhất nhưng cần xác định đối tượng. Những người nhạy cảm nhất là những người đi từ vùng không có dịch đến vùng có dịch như châu Á, đặc biệt trong mùa mưa nên dùng vacin. Ở Việt nam tiêm phòng cho trẻ từ 3 đến 15 tuổi

Biện pháp dự phòng cộng đồng

Khống chế vector truyền bệnh là điều khó thực hiện đối với viêm não Nhật bản B.Biện pháp áp dụng đối với vật chủ là dùng virus sống bất hoạt để tạo miễn dịch cho lợn con dự phòng nhiễm virus máu.

          ► Bệnh viêm gan virut

Viêm gan cấp là tình trạng viêm cấp tính của gan do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nhiễm khuẩn một trong nhiều thể virus viêm gan A, B, C, D, E. Ngoài ra, bệnh cũng có thể do các virus, các vi khuẩn khác không phải là virus viêm gan gây nên, một vài ký sinh trùng cũng có thể gây viêm gan cấp tính. Các nguyên nhân không nhiễm trùng có thể là do thuốc, độc tố, thiếu máu cục bộ.

Triệu chứng

Triệu chứng lâm sàng của viêm gan cấp

Một số người bệnh không có triệu chứng rõ ràng hoặc triệu chứng quá nhẹ nên không phát hiện được bệnh. Một số người bệnh thì có những triệu chứng sau:

- Giai đoạn tiền vàng da: Mệt mỏi, sốt nhẹ, Buồn nôn, chán ăn, Đau hạ sườn phải do gan lớn, Đau khớp, nhức đầu, nổi ban ở da

- Giai đoạn vàng da (sau giai đoạn tiền vàng da 3 – 7 ngày): Vàng da, vàng mắt, Nước tiểu sậm màu, phân nhạt màu, Có thể giảm sốt, giảm mệt mỏi

- Giai đoạn phục hồi (sau 4 – 8 tuần kể từ khi có triệu chứng đầu tiên): Vàng da giảm dần, tiểu nhiều, khoẻ hơn, ăn ngon hơn, Đôi khi hơi mệt, vàng da có thể kéo dài thêm vài tuần

Viêm gan cấp do virus viêm gan

Triệu chứng lâm sàng

- Giai đoạn ủ bệnh: virus nhân đôi và lan truyền nhưng không có triệu chứng
- Giai đoạn tiền vàng da: như đã nêu ở trên, các triệu chứng trong giai đoạn này khá giống cảm cúm kèm đau hạ sườn phải
- Giai đoạn vàng da: các triệu chứng toàn thân giảm, cảm thấy khoẻ hơn, tuy nhiên vàng da tăng, nước tiểu sậm màu, phân bạc màu, gan và lách vẫn to
- Giai đoạn phục hồi: vàng da giảm dần sau 2 – 4 tuần, ăn ngon hơn hoặc vàng da kéo dài dù tình trạng viêm đã giảm.

Điều trị

Phần lớn viêm gan virus B cấp tính không cần dùng thuốc đặc hiệu để điều trị virus vì 90% số trường hợp mắc bệnh ở người lớn hoặc trẻ em lớn bệnh sẽ khỏi hoàn toàn. Trong giai đoạn cấp tính người bệnh chỉ cần nghỉ ngơi đảm bảo dinh dưỡng tốt bệnh sẽ dần hồi phục.

Theo khuyến cáo của hội gan mật Hoa kỳ (American association for the study of liver diease –AASLD) viêm gan virus B mạn tính chỉ điều trị khi men gan ALT (Alanine aminotranferase) tăng cao trên 2 lần  trở lên so với bình thường.

Trên thế giới ngày nay  ALT đối với người khỏe mạnh bình thường < 30 IU/ml đối với nam giới và <19 IU/ml đối với nữ giới. Trong trường hợp ALT cao ít hơn hoặc không cao mà khi sinh thiết gan cho thấy có viêm hoại tử nhiều hoặc xơ nhiều thì cũng có chỉ định điều trị.

Phòng ngừa

Hiện vẫn chưa có cách điều trị đặc hiệu đối với viêm gan cấp, chủ yếu là chế độ dinh dưỡng, nghỉ ngơi.

Người bệnh nên ăn uống nhẹ,  ăn làm nhiều bữa và sử dụng các loại thức ăn dễ tiêu. Cần lưu ý, các triệu chứng của bệnh thường dễ chịu hơn vào buổi sáng, vì vậy người bệnh nên ăn vào buổi sáng nhiều hơn. Tránh ăn các thức ăn nhiều gia vị, dầu, mỡ. Cần ăn nhiều các loại protein được nấu nhừ, bên cạnh đó cũng cần ăn các chất có sơ như cam, cà rốt, chuối, gạo lứt, đậu đỏ, các loại rau xanh. Nên uống nhiều nước, đặc biệt nước cam, chanh vừa tăng lượng sinh tố, vừa tăng lượng nước của cơ thể

Uống nhiều nước cam, chanh tốt cho người bị bệnh gan 

Tuyệt đối không được sử dụng rượu bia trong giai đoạn này dưới mọi hình thức

Chế độ nghỉ ngơi và nằm nghỉ tại giường trong thời kỳ khởi phát và toàn phát, sau đó hoạt động nhẹ nhàng. Ở tư thế nằm, lượng máu qua gan sẽ tăng lên 25-30% so với tư thế đứng, giúp cho gan được tưới máu nhiều hơn.

(Nguồn: www. vi.wikipedia.org,www.dieutri.vn, http://vienyhocungdung.vn)

 


Mục liên quan

Chữa được bệnh Down?
Không thể chữa trị là câu trả lời của hầu hết các nhà khoa học, bác sĩ về hội chứng Down. Tuy nhiên mới đây, lần đầu tiên các bác sĩ dùng tế bào gốc điều trị người bệnh Down…
Rối loạn tiêu hóa
Tổng quan RLTH - Bệnh dễ mắc ở trẻ em, những RLTH thường gặp ở trẻ em.
Béo phì - Tổng quan, phân loại, các yếu tố nguy cơ và cách đề phòng
Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe. Béo phì là tình trạng sức khỏe có nguyên...
Suy dinh dưỡng - Dấu hiệu nhận biết, nguyên nhân & cách điều trị
Suy dinh dưỡng (người gầy hoặc người dưới cân) là thuật ngữ để chỉ những người không đủ cân nặng hay không đủ sức khoẻ, không đủ cân tiêu chuẩn so với chiều cao. Khái niệm này liên quan đến việc sử dụng...
Tổng quan, phân loại và cách phòng bệnh (Bệnh cúm, sốt xuất huyết, bệnh tả)
Việt Nam được xác định là một trong những “điểm nóng” toàn cầu có nguy cơ rất cao xuất hiện các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm mới nổi bao gồm các bệnh lây truyền từ vật nuôi, động vật hoang dã hoặc hệ...
Bệnh Sởi, bệnh quai bị, bệnh dại và bệnh thủy đậu
Các bệnh này đều do vi khuẩn hoặc virus xâm nhập và tấn công cơ thể. Chúng gây bệnh một lần và có thể lặp đi lặp lại nhiều lần trong cuộc đời mỗi người. Tuy nhiên, điều rất đặc biệt là mỗi người “chỉ”...
Bệnh văn phòng
Bệnh văn phòng hay hội chứng bệnh văn phòng (SBS) là thuật ngữ chỉ về các loại bệnh tật khác nhau có nguyên nhân từ những điều kiện và môi trường làm việc ở văn phòng, cao ốc và những công việc liên quan đến...
Béo phì
Các bác sĩ thường sử dụng một công thức dựa trên chiều cao và cân nặng, được gọi là chỉ số khối cơ thể (BMI), để xác định béo phì. Người lớn có BMI từ 30 trở lên được coi là béo phì.
Bệnh da liễu
Bệnh da liễu (hợp xưng của "bệnh da" và "bệnh hoa liễu"), gọi tắt là da liễu là các chứng bệnh ảnh hưởng đến bề mặt của cơ thể: da, lông, tóc, móng, các cơ và tuyến liên quan
search

Tra cứu Bệnh

search

Tra cứu Thuốc

Dược liệu từ thiên nhiên

Đối tác - Liên kết

Chat với chúng tôi
Alô Bác Sĩ
Alô Dược Sĩ