hotline

ALÔ Bác Sĩ Tư Vấn
Khám Bệnh

Đang chờ số

hotline

ALÔ Dược Sĩ Tư Vấn
Sử Dụng Thuốc

Đang chờ số

Béo phì - Tổng quan, phân loại, các yếu tố nguy cơ và cách đề phòng

Béo phì - Tổng quan, phân loại, các yếu tố nguy cơ và cách đề phòng

Béo phì - Tổng quan, phân loại, các yếu tố nguy cơ và cách đề phòng

Béo phì - Tổng quan, phân loại, các yếu tố nguy cơ và cách đề phòng

Béo phì - Tổng quan, phân loại, các yếu tố nguy cơ và cách đề phòng
Béo phì - Tổng quan, phân loại, các yếu tố nguy cơ và cách đề phòng

Béo phì - Tổng quan, phân loại, các yếu tố nguy cơ và cách đề phòng

25-12-2017 03:34:37 PM

1. Tổng quan

Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe. Béo phì là tình trạng sức khỏe có nguyên nhân dinh dưỡng. Thường thường một người trưởng thành khỏe mạnh, dinh dưỡng hợp lý, cân nặng của họ dao động trong giới hạn nhất định. "Cân nặng nên có" của mỗi người thường ở vào độ tuổi 25-30. Hiện nay, Tổ chức y tế thế giới thường dùng chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index - BMI) để nhận định tình trạng gầy béo.

Người bị béo phì ngoài thân hình phì nộn, nặng nề, khó coi,... còn có nguy cơ mắc nhiều bệnh như rối loạn lipit máu, tăng huyết áp, sỏi mật, đái tháo đường, xương khớp,... và ung thư.

Hiện nay tình hình thừa cân và béo phì đang tǎng lên với tốc độ báo động không những ở các quốc gia phát triển mà ở cả các quốc gia đang phát triển. Đây thật sự là mối đe dọa tiềm ẩn trong tương lai. Tại các nước đang phát triển béo phì tồn tại song song với thiếu dinh dưỡng, gặp nhiều ở thành phố hơn ở nông thôn. Ở Việt Nam tỷ lệ thừa cân và béo phì khoảng 5,6%, 6,5% ở các thành phố lớn[ 10,7% ở lứa tuổi 15-49 và 21,9% ở lứa tuổi 40-49. Tỷ lệ béo phì ở trẻ học sinh tiểu học Hà Nội là 4,2% (2013) và 12,2% ở Thành phố Hồ Chí Minh (2013).

2. Phân loại

Béo phì là điều kiện sức khỏe mà trong đó lượng chất béo trong cơ thể tích lũy quá nhiều đến mức mà nó gây những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Nó được xác định bằng chỉ số BMI (body mass index) và hơn nữa là được đánh giá qua sự phân bố mỡ thông qua tỉ lệ eo-hông và tổng các yếu tố rủi ro về tim mạch. BMI có quan hệ gần gũi với tỷ lệ mỡ trong cơ thể và tổng lượng mỡ trong cơ thể

Dữ liệu tham khảo dựa trên số liệu từ 1963 đến 1994, và điều này không bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng gần đây về cân nặng.

BMI được tính bằng cách chia cân nặng (kg) cho bình phương chiều cao (mét) theo công thức:

                 

BMI Phân loại
< 18,5 dưới chuẩn
18,5–24,9 Bình thường
25,0–29,9 thừa cân
30,0–34,9 béo phì cấp độ I
35,0–39,9 béo phì cấp độ II
≥ 40,0 béo phì cấp độ III

 Với W là cân nặng, và H là chiều cao.

Dân số châu Á có chỉ số BMI thấp hơn người Caucasian, do đó một số quốc gia đã định nghĩa lại béo phì; Nhật Bản gọi béo phì khi BMI lớn hơn 25 trong khi Trung Quốc là trên 28.

3. Một số yếu tố nguy cơ của thừa cân - béo phì

  • Khẩu phần và thói quen ăn uống

Khi chế độ ăn cung cấp năng lượng vượt quá nhu cầu, nếp sống làm việc tĩnh lại, ít tiêu hao năng lượng sẽ làm cân nặng cơ thể tăng lên. Nhiều người thường khó kiểm soát chế độ ăn của mình. Các nhà nghiên cứu cho rằng chỉ cần ăn dư ra 70 calo mỗi ngày sẽ dẫn tới tăng cân mặc dù số calo này nhỏ có thể không nhận ra dễ dàng, nhất là khi ta ăn những thức ăn giàu năng lượng. Các loại thức ăn giàu chất béo thường ngon miệng nên người ta dễ bị ăn quá thừa mà không biết. Mỡ có độ năng lượng cao gấp 2 lần đường, lại cần ít calo hơn để dự trữ dưới dạng triglyxerit, trong khi đó đường cần năng lượng để chuyển thành axit béo tự do trước khi dự trữ. Vì vậy, khẩu phần ăn nhiều mỡ dẫn đến thừa calo và tăng cân.

Các chất sinh năng lượng có trong thức ăn như protit, lipid, gluxit trong thức ăn đều chuyển nhanh thành chất béo dự trữ. Như vậy, một khẩu phần không chỉ nhiều chất béo mới gây béo mà ăn quá nhiều tinh bột, đường, đồ ngọt đều gây béo.

Các thói quen khác như ăn nhiều cơm, ăn nhiều vào bữa tối, thích ăn các thức ăn chứa nhiều năng lượng (đường mật, nước ngọt, thịt mỡ, dầu mỡ...), thích ăn các món ăn xào rán cũng là những thói quen không tốt có thể dẫn đến nguy cơ bị béo phì.

Nỗi lo béo phì làm mọi người cảm thấy tự ti về bản thân mình.

  • Hoạt động thể lực

Hoạt động thể lực tham gia vào quá trình thiết lập cân bằng giữa năng lượng tiêu hao và năng lượng nạp vào cơ thể do đó có vai trò hết sức quan trọng đối với tình trạng thừa cân - béo phì. Mặt khác, hoạt động thể lực còn giúp cơ thể chuyển hóa tích cực. Cùng với yếu tố ăn uống, sự gia tăng tỷ lệ béo phì thường đi song song với giảm hoạt động thể lực trong lối sống tĩnh lại.

Một điểm đáng lưu ý là những người hoạt động thể lực nhiều thường ăn thức ăn giàu năng lượng nhưng khi điều kiện làm việc thay đổi & lối sống thay đổi, hoạt động thể lực giảm, nếu vẫn giữ thói quen ăn nhiều họ thường dễ bị béo. Điều này giải thích cho hiện tượng béo phì ở tuổi trung niên, các vận động viên sau khi giải nghệ hay những công nhân lao động chân tay sau khi về hưu.

  • Yếu tố di truyền

Yếu tố di truyền có vai trò nhất định đối với béo phì. Theo Grant và Clark (1976) trẻ có cha mẹ béo phì thường bị béo phì. Một nghiên cứu ở Thái Lan trên trẻ từ 6-13 tuổi (1996) cho thấy tỉ lệ con cái có cha mẹ béo phì bị béo phì nhiều hơn gấp 3,1 lần so với những trẻ em có cha mẹ không bị béo phì. Trong số trẻ béo phì, khoảng 80% có cha hoặc mẹ bị béo phì, 30% có cả cha và mẹ bị béo phì. Gia đình có nhiều cá nhân bị béo phì thì nguy cơ béo phì cho những thành viên khác là rất lớn. Tuy nhiên trên cộng đồng, vai trò của yếu tố di truyền này không lớn. Mặt khác, một gia đình có nhiều thành viên bị béo phì có thể còn liên quan đến chế độ ăn uống chung của toàn hộ gia đình đó.

Nhiều nghiên cứu đã cố gắng xác định xem nguyên nhân của tình trạng béo phì có tính gia đình là do di truyền hay do môi trường. Hiện nay người ta đã có những bằng chứng kết luận rằng: béo phì thường do yếu tố môi trường tác động lên những cá thể có khuynh hướng di truyền. Và dinh dưỡng giữ vai trò hàng đầu trong số các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến hiện tượng thừa cân - béo phì.

  • Yếu tố kinh tế

Ở các nước đang phát triển, kinh tế còn nghèo, tỉ lệ người béo ở tầng lớp nghèo thường thấp. Nguyên nhân chính là do nguồn cung cấp thực phẩm còn hạn chế, năng lượng tiêu hao nhiều không chỉ do lao động chân tay nặng nhọc mà tiêu hao năng lượng còn tăng lên do đi lại chủ yếu bằng phương tiện thô sơ hay đi bộ. Ngược lại, ở cộng đồng có điều kiện kinh tế - xã hội tốt hơn, tỷ lệ béo phì thường cao hơn. Tuy nhiên, điều này không nhất thiết như vậy. Hiện tượng "gánh nặng kép" đã xuất hiện ở nhiều nước Châu Á nghĩa là tồn tại đồng thời cả tình trạng thừa cân - béo phì và cả suy dinh dưỡng, thậm chí thừa cân - béo phì gặp không ít ở các cộng đồng nghèo. Điều này gắn liền với quá trình đô thị hóa đã quan sát thấy ở nhiều nước đang phát triển.

Mặt khác, ở các nước công nghiệp phát triển, sự thiếu ăn không còn phổ biến nữa, tỷ lệ béo phì lại thường cao ở tầng lớp nghèo, ít học so với các tầng lớp khá giả hơn. Nguyên nhân là do tầng lớp nghèo vẫn giữ thói quen ăn uống có nguy cơ đối với thừa cân, còn tầng lớp khá giả lại có xu hướng kiểm soát tốt hơn tình trạng béo phì so với tầng lớp nghèo.

4. Nguy cơ

Béo phì có thể ảnh hưởng đến tim, phổi, gan, khớp xương và xương... Có thể dẫn đến các bệnh nghiêm trọng như: Cao huyết áp, tiểu đường, tim mạch, tai biến mạch máu não và các bệnh liên quan đến đường hô hấp.

5. Phòng ngừa

  • Tập thể dục ít nhất 3 lần (it nhất 30 phút) mỗi tuần.

  • Tăng cường vận động: đi bộ, chơi thể thao, làm vườn,...

  • Sử dụng giấm táo mật ong dạng viên hoặc dung dịch. Giấm táo giúp ngăn chặn sự tích tụ mỡ trong cơ thể và gan, giảm lượng calo đưa vào cơ thể mỗi ngày,qua đó giúp giảm mỡ (mỡ dưới da, mỡ nội tạng) và giảm cân nặng cơ thể mà không gây ra tác dụng phụ. Ngoài ra, giấm táo còn giúp ngăn ngừa hội chứng rối loạn chuyển hóa, từ đó giúp cơ thể giảm cân một cách khỏe mạnh.

  • Bỏ thuốc lá.

  • Ăn nhiều trái cây và rau.

  • Uống ít rượu.

Nguồn: https://vi.wikipedia.org

 


Mục liên quan

Thức khuya gây béo phì, mất trí nhớ
Những người thức khuya, thường sử dụng thiết bị công nghệ sẽ tiêu thụ nhiều hơn thực phẩm chất béo cao, có thể là nguyên nhân chính gây béo phì, tiểu đường.
Béo phì và những điều ảnh hưởng đến sức khỏe bạn cần biết
Béo phì ngày nay được coi là một bệnh lý đang có xu hướng ngày càng dễ gặp ở nhiều người. Bệnh béo phì cũng chính là nguyên nhân dẫn tới nhiều bệnh tật...
Thời trẻ béo phì về già dễ bị bệnh gan
Một nghiên cứu mới tại Mỹ cho thấy nam giới bị béo phì trong thời thơ ấu và niên thiếu sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh gan sau này.
Chữa được bệnh Down?
Không thể chữa trị là câu trả lời của hầu hết các nhà khoa học, bác sĩ về hội chứng Down. Tuy nhiên mới đây, lần đầu tiên các bác sĩ dùng tế bào gốc điều trị người bệnh Down…
Giao mùa, bệnh tay chân miệng dễ bùng phát thành dịch lớn
Trong 2 tuần gần đây, bệnh tay chân miệng ở trẻ gia tăng liên tục, đặc biệt thời điểm này rơi vào thời điểm giao mùa càng khiến dịch dễ bùng phát một cách mạnh mẽ hơn.
Mắc cảm cúm không ngờ từ những thói quen hàng ngày
Ngoài thời tiết giá lạnh, nhiệt độ thay đổi thất thường thì một số thói quen hàng ngày cũng là yếu tố khiến chúng ta dễ mắc cảm cúm.
6 sai lầm nhiều người mắc phải khiến nguy cơ bị cảm càng tăng cao
Chỉ cần mắc vài thói quen sau cũng đủ khiến tháng nào bạn cũng có thể bị mắc bệnh cảm.
Bệnh tay chân miệng lây nhiễm thế nào?
Con tôi 4 tuổi, cháu đang đi trẻ, nhưng mấy hôm nay lớp bé có bạn bị tay chân miệng (TCM) nên em rất lo lắng? Xin hỏi bác sĩ bệnh này lây nhiễm thế nào?
Cách phòng tránh bệnh chân tay miệng hiệu quả nhất cho trẻ
Bệnh chân tay miệng là bệnh có nhiều biến chứng nguy hiểm. Tuy nhiên, bệnh chưa có văc xin phòng vì thế cách tốt nhất là mẹ nên phòng tránh ngăn virus bệnh tiếp xúc với con.
Những dấu hiệu cho thấy bạn sắp khỏi bệnh sốt xuất huyết
Theo các bác sĩ, nếu bị sốt xuất huyết và vào khoảng ngày thứ 7 của bệnh mà cháu xuất hiện các ban sẩn ngứa thì có thể đó là dấu hiệu báo cho thấy sắp khỏi sốt xuất huyết.
search

Tra cứu Bệnh

search

Tra cứu Thuốc

Dược liệu từ thiên nhiên

Đối tác - Liên kết

Chat với chúng tôi
CALL
SMS