hotline

ALÔ Bác Sĩ Tư Vấn
Khám Bệnh

1900.599.910

(Từ 9h00 - đến 21h00 hằng ngày)

(5.000đ/Phút)

hotline

ALÔ Dược Sĩ Tư Vấn
Sử Dụng Thuốc

1900.599.909

(Từ 9h00 - đến 21h00 hằng ngày)

(5.000đ/Phút)

Cảnh giác với nhiều biến chứng nguy hiểm của bệnh Bạch hầu!

Cảnh giác với nhiều biến chứng nguy hiểm của bệnh Bạch hầu!

Cảnh giác với nhiều biến chứng nguy hiểm của bệnh Bạch hầu!

Cảnh giác với nhiều biến chứng nguy hiểm của bệnh Bạch hầu!

Cảnh giác với nhiều biến chứng nguy hiểm của bệnh Bạch hầu!
Cảnh giác với nhiều biến chứng nguy hiểm của bệnh Bạch hầu!

Cảnh giác với nhiều biến chứng nguy hiểm của bệnh Bạch hầu!

04-07-2020 10:32:59 AM

Bệnh Bạch hầu thuộc nhóm B trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm. Theo đó, là loại bệnh nhiễm khuẩn cấp tính có giả mạc ở tuyến hạnh nhân, hầu họng, thanh quản, mũi. Bệnh có thể xuất hiện ở da, các màng niêm mạc khác như kết mạc mắt hoặc bộ phận sinh dục. Đây là một bệnh vừa nhiễm trùng vừa nhiễm độc và các tổn thương nghiêm trọng của bệnh chủ yếu là do ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu gây ra.

Vi khuẩn từ các mảng trắng có thể tiết ra nội độc tố, dễ gây suy hô hấp và tuần hoàn, liệt khẩu làm thay đổi giọng nói, sặc và khó nuốt khi ăn uống, lú lẫn; nặng thì hôn mê, sau đó tử vong. Một số trường hợp biến chứng viêm cơ tim hay viêm dây thần kinh ngoại biên. Ở những người không được tiêm phòng, hoặc không được điều trị kịp thời, 10% trường hợp người bệnh sẽ tử vong mặc dù đã dùng kháng sinh và sử dụng thuốc chống huyết thanh.


Bệnh bạch hầu thường xuất hiện trong những tháng lạnh ở vùng ôn đới. Bệnh có tính mùa, thường tản phát, có thể phát triển thành dịch nhất là ở trẻ dưới 15 tuổi chưa được gây miễn dịch đầy đủ.

Nguồn truyền nhiễm

Ổ chứa: ổ chứa vi khuẩn bạch hầu là ở người bệnh và người lành mang vi khuẩn. Đây vừa là ổ chứa, vừa là nguồn truyền bệnh.
Thời gian ủ bệnh: Từ 2 đến 5 ngày, có thể lâu hơn.
Thời kỳ lây truyền: Thường không cố định. Người bệnh đào thải vi khuẩn từ thời kỳ khởi phát, có thể ngay từ cuối thời kỳ ủ bệnh. Thời kỳ lây truyền kéo dài khoảng 2 tuần hoặc ngắn hơn, ít khi trên 4 tuần. Người lành mang vi khuẩn bạch hầu có thể từ vài ngày đến 3, 4 tuần, rất hiếm trường hợp kéo dài tới 6 tháng. Điều trị kháng sinh có hiệu quả nhanh chóng sẽ chấm dứt sự lây truyền. Hiếm có trường hợp mang vi khuẩn mãn tính kéo dài trên 6 tháng.
Phương thức lây truyền: Bệnh bạch hầu được lây truyền qua đường hô hấp do tiếp xúc với người bệnh hoặc người lành mang vi khuẩn bạch hầu. Bệnh còn có thể lây do tiếp xúc với những đồ vật có dính chất bài tiết của người bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu. Sữa tươi cũng có thể là phương tiện lây truyền bệnh bạch hầu.

Triệu chứng khi bị bệnh bạch hầu

Có khá nhiều triệu chứng xuất hiện trong 2 đến 5 ngày sau khi phơi nhiễm. Ban đầu người nhiễm bệnh sẽ bị đau họng, ho và sốt kèm ớn lạnh. Các triệu chứng này tăng dần từ nhẹ đến nặng hơn. Chính vì triệu chứng khá phổ biến nên cha mẹ dễ nhầm tưởng trẻ chỉ đơn giản đang bị cảm lạnh, chứ không phải đang phơi nhiễm với vi khuẩn bạch hầu.
Tùy thuộc vào vị trí vi khuẩn gây bệnh, bệnh bạch hầu sẽ có các biểu hiện khác nhau:
Bạch hầu mũi trước: Bệnh nhân sổ mũi, chảy mũi ra chất mủ nhầy đôi khi có lẫn máu. Khi khám, có thể thấy màng trắng ở vách ngăn mũi. Thể bệnh này thường nhẹ do độc tố vi khuẩn ít thâm nhập vào máu.
Bạch hầu họng và amidan: Bệnh nhân mệt mỏi, đau cổ họng, chán ăn, sốt nhẹ. Sau 2-3 ngày sẽ xuất hiện một đám hoại tử tạo thành lớp giả mạc màu trắng xanh, dai và dính chắc vào amiđan, hoặc có thể lan rộng bao phủ cả vùng hầu họng. Thường thể bệnh này các độc tố ngấm vào máu nhiều và có thể gây tình trạng nhiễm độc toàn thân. Một số bệnh nhân có thể sưng nề vùng dưới hàm và sưng các hạch vùng cổ làm cổ bạnh ra như cổ bò. Những trường hợp nhiễm độc nặng, bệnh nhân sẽ phờ phạc, xanh tái, mạch nhanh, đờ đẫn, hôn mê. Nếu không được điều trị tích cực, bệnh nhân có thể tử vong trong vòng 6-10 ngày.
Bạch hầu thanh quản: Đây là thể bệnh tiến triển nhanh và rất nguy hiểm. Bệnh nhân thường biểu hiện bằng dấu hiệu sốt, khàn giọng, ho ông ổng. Khi khám, bác sĩ có thể thấy các giả mạc tại ngay thanh quản hoặc từ hầu họng lan xuống. Nếu không được xử trí kịp thời, các giả mạc này có thể gây tắc đường thở làm bệnh nhân suy hô hấp và có nguy cơ tử vong nhanh chóng.
Bạch hầu các vị trí khác: Thường rất hiếm gặp và nhẹ, vi khuẩn bạch hầu có thể gây loét ở da, niêm mạc như niêm mạc mắt, âm đạo hay ống tai.

Diễn tiến bệnh và những biến chứng nguy hiểm của bệnh

 Khi bệnh trở nặng, bên trong cổ họng và amidan người bệnh xuất hiện các lớp màng dày màu trắng xám, mọc thành từng mảng lớn, khiến bệnh nhân bị tắc nghẽn đường hô hấp và ho khan.
Khi mắc bệnh, nếu bệnh nhi không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ dẫn đến viêm cơ tim, tổn thương hệ thần kinh, tử vong do đột ngột trụy tim mạch. Một số bệnh nhân bị viêm cơ tim và van tim, gây ra bệnh tim mãn tính và suy tim. Ngoài ra, bệnh cũng có thể dẫn đến thoái hóa thận, hoại tử ống thận, chảy máu lớp tủy và vỏ thượng thận.
Trường hợp bệnh nặng không có biểu hiện sốt cao nhưng có dấu hiệu sưng to cổ, khàn tiếng, khó thở, rối loạn nhịp tim, dẫn đến tê liệt hoàn toàn. Bệnh hoàn toàn có thể diễn tiến trầm trọng khiến người bệnh tử vong trong vòng 6-10 ngày.

Lời khuyên thầy thuốc

Những bệnh nhân mắc bệnh đều có tiền sử tiêm chủng không đầy đủ. Hiện tại đối với trẻ em thì tiêm các mũi “5 hay 6 trong 1” lúc 2, 3, 4 tháng tuổi thì đã có thuốc ngừa bạch hầu.
Lưu ý phụ huynh hay quên liều nhắc lại (liều thứ 4) từ 12-24 tháng tuổi .Phải tiêm đủ 4 mũi. Đối với trẻ lớn hay người lớn chưa tiêm ngừa bạch hầu hay đã tiêm trên 10 năm thì phải tiêm mũi nhắc lại.

Để chủ động phòng chống bệnh bạch hầu, Cục Y tế dự phòng - Bộ Y tế khuyến cáo người dân cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
1. Đưa trẻ đi tiêm chủng tiêm vắc xin phối hợp phòng bệnh bạch hầu: 6 trong 1, ComBe Five hoặc DPT-VGB-Hib (SII), Td đầy đủ, đúng lịch.
2. Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng; che miệng khi ho hoặc hắt hơi; giữ vệ sinh thân thể, mũi, họng hàng ngày; hạn chế tiếp xúc với người mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh.
3. Đảm bảo nhà ở, nhà trẻ, lớp học thông thoáng, sạch sẽ và có đủ ánh sáng.
4. Khi có dấu hiệu mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu phải được cách ly và đưa đến cơ sở y tế để được khám, điều trị kịp thời.
5. Người dân trong ổ dịch cần chấp hành nghiêm túc việc uống thuốc phòng và tiêm vắc xin phòng bệnh theo chỉ định và yêu cầu của cơ quan y tế.
                                                                                                                                                                                                       BS Nguyễn Minh


Mục liên quan

Tuyệt đối không dùng Ibuprofen để hạ sốt khi bị sốt xuất huyết
Bác sĩ khuyến cáo khi bị sốt xuất huyết, tuyệt đối không hạ sốt bằng thuốc Ibuprofen vì đây là nguyên nhân gây ra tình trạng xuất huyết tiêu hóa. Không tự điều trị sốt xuất huyết tại nhà
Vì sao nên chọn sữa có tỷ lệ đạm và béo cao?
Không nhiều người đi mua sữa tươi có dành sự quan tâm chi tiết đến các tỷ lệ đạm và béo, trong khi đây lại là những thành phần quan trọng nhất quyết định chất lượng và giá cả sản phẩm.
Cần biết: Những loại thực phẩm làm sạch phổi, ngăn ngừa ung thư
Đặc tính chống oxy hóa, kháng viêm, tăng cường hệ miễn dịch được xem là các nhân tố chính giúp những thực phẩm này ngăn ngừa tổn thương tiền ung thư.
5 nguyên nhân chính khiến bạn bị sỏi thận, chớ coi thường!
Biết nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ của sỏi thận có thể giúp ngăn ngừa và kiểm soát chúng.
Cách phòng bệnh ung thư thực quản đơn giản
Yếu tố gây bệnh chính xác của ung thư thực quản hiện nay chưa rõ. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra có một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư thực quản: tuổi cao, nam giới, hút thuốc, uống rượu...
Cảnh báo Suy tĩnh mạch là dấu hiệu của huyết khối
Nghiên cứu cho thấy những người bị suy tĩnh mạch có nhiều nguy cơ phát triển thành các cục máu đông, có thể gây tử vong.
Hở van tim - căn bệnh không thể coi thường
Theo Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ, mỗi năm có tới 5 triệu người Mỹ được chẩn đoán mắc bệnh liên quan đến tim mạch, trong đó có tới gần 1/4 là bệnh hở van tim.
Lạm dụng thuốc giảm đau, dễ bị đột quỵ
Các nhà khoa học mới đây đã xác định nguy cơ về các biến cố tim mạch như đột quỵ, lên cơn đau tim và đau thắt ngực… tăng ở những người thường xuyên sử dụng thuốc giảm đau có chứa ibuprofen, celecoxib, mefenamic...
Mùa hè có cần bổ sung vitamin D cho trẻ?
Vitamin D rất cần cho sự phát triển của cơ thể, đặc biệt là trẻ em, bởi vì chúng giúp cho hệ thống xương, răng được chắc khỏe, vững vàng.
Phát hiện loại thuốc huyết áp phổ biến đẩy lùi 3 bệnh nan y
Nhóm nghiên cứu từ Đại học Cambridge (Anh) phát hiện tính năng khó tin của một loại thuốc cao huyết áp rất phổ biến là felodipine.
search

Tra cứu Bệnh

search

Tra cứu Thuốc

Dược liệu từ thiên nhiên

Đối tác - Liên kết

Chat với chúng tôi
Alô Bác Sĩ
Alô Dược Sĩ